GreenFeed mổ khảo sát heo thịt đời con GF24 tại Giồng Trôm - Bến Tre

Thứ năm, 27/07/2017, 11:15 GMT+7

     Ngày 25/07/2017, bộ phận kinh doanh khu vực Bến Tre (Bến Lức 3) kết hợp với bộ phận kỹ thuật, phòng Chiến lược & Marketing của công ty GreenFeed Việt Nam tiếp tục tổ chức hội thảo “Mổ khảo sát chất lượng thân thịt và năng suất giống heo GreenFeed”. Đây là hoạt động giúp nhà chăn nuôi hiểu hơn về con giống chất lượng để cải thiện hiệu quả kinh tế “Tăng năng suất & giảm chi phí”.

     Tham gia buổi hội thảo, Tiến sĩ Phạm Ngọc Du – giảng viên bộ môn Giống di truyền, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ trình bày một số chỉ tiêu thông thường khi đánh giá chất lượng thân thịt như: tỷ lệ móc hàm; tỷ lệ thịt xẻ; diện tích cơ thăn; tỷ lệ nạc… để bà con chăn nuôi hiểu và lựa chọn con giống chất lượng tốt để chăn nuôi.

Tiến sĩ Phạm Ngọc Du – giảng viên bộ môn Giống di truyền, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ

Tiến sĩ Phạm Ngọc Du đo chiều dài thân thịt

 

     Bên cạnh phần trình bày lý thuyết, chương trình đã mổ khảo sát 02 con heo thịt của nái GF24 phối tinh GF399. Kết quả đánh giá đạt được các tỷ lệ rất tốt: tỷ lệ móc hàm (bao gồm đầu) là 85,25 - 85,35%; tỷ lệ phần cạo (79,7 - 80,0%); tỷ lệ đầu và lòng (15,5 - 16%);  tỷ lệ thịt xẻ (76,9 – 77,3%). Thầy Phạm Ngọc Du - đại diện nhóm mổ khảo sát đã nhận xét: “Trong chăn nuôi heo, hiệu quả con giống thể hiện qua 2 chỉ tiêu lớn là năng suất sản xuất thịt và chất lượng thân thịt. Heo thịt đời con nái GF24 phối tinh GF399 đạt về năng suất sản xuất thịt và phẩm chất thân thịt theo tiêu chí đánh giá chuẩn bộ khảo sát gia súc (*).

     Chủ trại Lê Văn Hồng (huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, qui mô 30 nái GF24) chia sẻ: Nếu nuôi con giống GreenFeed đúng qui trình, thì thời gian nuôi ngắn, tốc độ phát triển rất cao. Khẳng định chất lượng heo thịt đời con nái GF24 phối tinh GF rất đạt”.

Trại Lê Văn Hồng - huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (qui mô 30 nái GF24)     

     Ông Trương Văn Hùng – Trưởng phòng phát triển dự án trại khu vực Tây Nam Bộ tính toán: “tại trại anh Hồng, giá thành sản xuất hiện tại là 29.785 đồng/kg, đây là mức chi phí thấp đối với người chăn nuôi nhỏ. Thực tế, thì chính các yếu tố về chi phí chuồng trại; con giống; vaccine & thuốc thú y; chi phí nhân công & điện nước, và chi phí thức ăn đã ảnh hưởng đến giá thành heo thịt. Phần  chi phí này thấp, nghĩa là người nông dân sẽ giảm chi phí chăn nuôi, và tăng khả năng tồn tại trong thị trường khó khăn”.

 

 

Ông Trương Văn Hùng – Trưởng phòng phát triển dự án trại khu vực Tây Nam Bộ

Ông Trần Trung Nguyên – trưởng phòng cấp cao Marketing BU (khu vực Tây Nam Bộ)     

     Tiếp theo lời ông Hùng, ông Trần Trung Nguyên – trưởng phòng cấp cao Marketing BU (khu vực Tây Nam Bộ) cho biết: “với việc áp dụng trọn bộ giải pháp 5 trọng tâm của GreenFeed (thiết kế & xây dựng chuồng trại; con giống; dinh dưỡng vật nuôi; quản lý chăn nuôi; an toàn sinh học & thú y), thì chắc chắn người chăn nuôi sẽ gặp nhiều thuận lợi”.

Tiến sĩ Phạm Ngọc Du– giảng viên bộ môn Giống di truyền, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ chia sẻ về năng suất sản xuất thịt và phẩm chất thân thịt của heo thịt đời con nái GF24 theo tiêu chí đánh giá chuẩn bộ khảo sát gia súc (*):

- Về nhóm năng suất: kết quả chăn nuôi ở trại Lê Văn Hồng, hiệu quả sử dụng thức ăn FCR 2,02 là rất đạt (so với tiêu chuẩn mà Bộ NN&PTNN công bố trên một số giống ngoại nhập thì FCR chuẩn: 2,40 - 2,50). FCR càng thấp, hiệu quả chăn nuôi càng cao. FCR tốt phụ thuộc vào chuồng trại, con giống, dinh dưỡng, quản lý chăm sóc, an toàn dịch bệnh và thú y.

 - Về nhóm chất lượng thân thịt: năng suất phản ánh một phần, giá trị con heo còn thể hiện qua chất lượng, với tỷ lệ thịt xẻ 77% (là phần trọng lượng heo sau khi trừ đi: máu, lông, đầu, lòng, dựng (cẳng chân), mỡ sa bụng), tỷ lệ thịt xẻ này là rất đạt yêu cầu (chuẩn các giống heo nội địa là 70%).

- Về nhóm tỷ lệ nạc và hấp dẫn màu sắc: tỷ lệ thịt xẻ 77% là cao, nhưng tỷ lệ nạc và màu sắc thịt mới quyết định tính ưa chuộng của người tiêu dùng. Theo kết quả mổ khảo sát cho thấy, chất lượng thịt của heo thịt đời con của nái GF24 có diện tích cơ thăn rất lớn (>= 75 cm2), đó là yếu tố chính quyết định đến kết quả tỷ lệ nạc rất cao (> 66%). Heo thịt càng nhiều nạ, sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi và nhóm người trung gian (thương lái, pha lốc, tiểu thương). Song yếu tố hấp dẫn người tiêu dùng, khiến họ quyết định mua thịt lại là màu sắc. Dựa trên bảng màu tiêu chuẩn đánh giá màu sắc thịt của Mỹ (Pork quality standards – color) từ thang điểm 1 đến 6, trong khi chỉ từ thang điểm 3 là đạt yêu cầu, thì kết quả màu thịt mảnh của heo thịt đời con của nái GF24 được đánh giá là 4 - 5 điểm.

............

NGUỒN: GREENFEED VIỆT NAM